Cách nói tiếng Việt chuẩn cho người nước ngoài

Thảo luận trong 'Trò chuyện' bắt đầu bởi tienganh, 28/2/20.

  1. tienganh

    tienganh Moderator

    Tham gia ngày:
    5/5/19
    Bài viết:
    49
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    6
    Giới tính:
    Nam
    Phát âm là vấn đề cần thiết khi học tiếng Việt bởi nếu nói sai ngữ pháp người Việt có thể hiểu ý bạn muốn trình bày, nhưng nếu nói không đúng một từ thì người Việt không thể hiểu. Dù vậy, phát âm lại là vấn đề khó nhằn nhất cho hầu hết người nước ngoài khi dạy tiếng Việt cho người nước ngoài.

    Các âm trong tiếng Việt được hình thành khá nhiều từ: Phụ âm, nguyên âm, và thanh điệu. Vậy, làm cách nào để nói tiếng Việt chính xác? Bài viết xin trình bày cho người học một số cách sau đây:

    Trước hết, bạn cần hiểu được rằng tiếng Việt được cấu tạo từ các đơn âm nên việc học phát âm sẽ theo quy trình từ phát âm âm tiết đến phát âm chuỗi âm tiết, từ phát âm chuỗi âm tiết đến phát âm câu với ngữ điệu tự nhiên.

    Phát âm mỗi âm tiết

    Điều quan trọng khi học phát âm mỗi âm tiết là bạn cần biết được tiêu chí phát âm và cấu hình miệng khi phát âm âm đó, ví dụ: phát âm ngắn hay kéo dài, chuyển động của lưỡi từ khi bắt đầu đến khi kết thúc âm ra sao, bật hơi hay không bật hơi,…

    Người nước ngoài học tiếng Việt là thứ tiếng thứ hai thường bị áp lực từ tiếng mẹ đẻ, vì vậy thường không nhận ra những nét khác nhau và thường qui âm nhận được thành âm tương tự có sẵn trong tiếng mẹ đẻ. Đối với trường hợp này, cần thiết phải có giáo viên hướng dẫn để học viên có thể phân biệt và sửa lỗi ngay lập tức. Có rất nhiều học viên có thể phản ánh và hiểu đúng về các âm nhưng vẫn nói sai là do chưa thể tự cân đối bộ máy phát âm theo ý muốn, trường hợp này học viên đó hiểu được lỗi phát âm của mình nhưng cần phải có sự rèn luyện chăm chỉ trong thời gian dài để có thể phát âm tiếng Việt chuẩn.

    Nhận diện và phát âm

    Với mỗi người bắt đầu học tiếng Việt, đều hoang mang không biết bắt đầu học tiếng Việt từ đâu? Việc đầu tiên là phải nắm bắt được âm tiết. Đó là việc người học từ tiếp nhận đến khái quát hóa âm đó đến lúc có thể thực hiện hóa tri thức của mình bằng việc phát âm. Phương pháp để nhận diện âm tiết tiếng Việt cũng giống như khi học các thứ tiếng khác, là nguồi học cần phải nghe và lặp lại nhiều lần âm tiết đó. Với những âm tiết gần gũi, có trong tiếng mẹ đẻ, học viên sẽ rất dễ dàng học theo và nói chính xác. Vấn đề cần nói tới là các âm xa lạ (là khác nhau đối với các người học đến từ những nước khác nhau) thì việc hiểu ra không đơn giản. Học viên cần phải nghe và lặp lại nhiều lần đồng thời có sự hướng dẫn của giáo viên để làm rõ các âm giống nhau mà người học không tự nhận ra được sự khác biệt.

    Bạn nên học theo từng cặp đối lập. Ví dụ, những học viên từ Nhật Bản hay Hàn Quốc thì khả năng bị nhầm giữa âm [v] (v) và (b) rất cao, còn người học là người nói tiếng Anh thường hay không phân biệt được âm [c] (c,q,k) và [o] (kh),…Biết được mình nhầm lẫn giữa những âm nào, học viên nên thường xuyên nghe và phát âm liên tục những âm đó, tập trước với những từ quen thuộc và có cấu trúc âm tiết đơn giản, sau đó với những từ phức tạp hơn. Ví dụ, người học nên lập bảng như sau:

    [v] (v)

    (b)

    [c] (c,q,k)

    [o] (kh)







    khó

    về

    bề



    khá

    việt

    biệt

    cám (ơn)

    khám

    Rèn luyện phát âm và luyện nghe luôn đi cùng với nhau. Học viên nên dùng audio hoặc nhờ giáo viên phát âm để nghe đi nghe lại và chỉ ra chính xác từ vừa được phát âm, ngược lại học viên cần luyện tập để phản ứng với phát âm thật nhanh từ mà giáo viên đưa ra. Con đường rèn luyện ban đầu rất vất vả, tốc độ chậm nhưng sau đó sẽ nhanh hơn, nếu không luyện tập thường xuyên, người học sẽ rất dễ quên các âm đã học. Do đó, hành trình luyện tập đòi hỏi phải lâu dài, học viên cần kiên trì cho đến khi học viên có thể nhận biết và phát âm đúng âm bất kỳ thời điểm nào.

    Nâng cao khả năng phản xạ

    Sau khi đã làm chủ được các âm, bạn cần chuyển sang bước ôn luyện để nâng cao khả năng phản xạ với mỗi từ. Với bước này, luyện tập với người hướng dẫn mang lại hiệu quả tốt hơn. Bạn sẽ phát âm cho tất cả các từ mà giáo viên chỉ (các từ đã được học trong bài học), chú ý học viên cần luyện phát âm chuyển đổi giữa các từ có thanh điệu khác nhau để thực hành phát âm thanh điệu, nhịp độ chuyển đổi có thể từ chậm đến nhanh dần. Ví như, phát âm các từ trong bảng dưới đây:

    nho

    nhò

    nhó

    nhá

    nhâ

    nhọ

    nhô

    nhồ

    nhố

    nhổ

    nhỗ

    nhộ

    nhơ

    nhờ

    nhớ

    nhở

    nhì

    nhợ

    nhu

    nhù

    nhú

    nhủ

    nhũ

    nhụ

    như

    nhừ

    nhứ

    nhử

    nhữ

    nhự

    Phát âm chuỗi âm tiết

    Người học có thể đọc được từng âm tiết không có nghĩa là luôn phát âm chính xác âm tiết trong một chuỗi nhiều âm tiết. Người học cần phải ôn luyện kỹ năng phát âm chuỗi âm tiết vì trong thực tế nói năng, một ý cần trình bày thường là một câu với nhiều từ kết hợp với nhau.

    Thường người học sẽ phạm lỗi về thanh điệu khi phát âm một chuỗi âm tiết (đặc biệt đối với các học viên mà trong tiếng mẹ đẻ không có thanh điệu). Thậm chí học viên có thể phát âm đúng thanh điệu khi phát âm từng âm tiết cũng không có nghĩa là sẽ vẫn chuẩn khi nói một chuỗi có cùng hay không cùng âm điệu. Để sửa lỗi sai này, người học cần phải luyện tập theo hướng chuyển đổi liên tục giữa các thanh điệu. Ví dụ, nếu người học phát âm âm thanh ngang giống thanh huyền sau khi phát âm thanh huyền thì cần phải tập theo thứ tự: “huyền-huyền-ngang”.

    Sau đây là một số kiểu ôn luyện phát âm đúng thanh điệu trong chuỗi nhiều âm tiết:

    Câu chứa thanh ngang: Ví dụ: Tôi đi chơi Nha Trang hôm qua.

    Câu chứa thanh huyền: Ví dụ: Bà Tùng vừa về nhà mình hồi chiều.

    Câu chứa thanh hái: Ví dụ: Thảo chỉ hái đổi mảnh vải đá.

    Câu chứa thanh ngã: Ví dụ: Gã đã vẽ kỹ lưìng mãi.

    Câu chứa thanh sắc: Ví dụ: Nó muốn nói với má: nó rất cố gắng.

    Câu chứ thanh nặng: Ví dụ: Một chuyện thật tội nghiệp tại bệnh viện: chị bị đụng thật nặng.

    Ngang-sắc-ngang: Ví dụ: không có chi, đi với tôi, xem máy bay, mua áo mưa,...

    Sắc-ngang-sắc: Ví dụ: thấy anh ấy, tối hôm đó, mấy con chó, khó khăn đấy,…

    Ngang-nặng-ngang: Ví dụ: đi chợ đêm, bưu điện xưa, viên kẹo to, nghiêng một bên,…

    Nặng-ngang-nặng: Ví dụ: một con bọ, thị ba rọi, chục viên kẹo, quẹo xe lại,…

    Trên đây là phương thức giúp học viên rèn luyện cách nói chuẩn tiếng Việt. Tuy nhiên, phát âm đúng khi sử dụng tiếng Anh là một điều lý tưởng khó đạt đến hoàn hảo. Phương pháp luyện tập đạt được kết quả còn phụ thuộc vào nhiều điều kiện như sự kiên trì hay ngữ cảm của học viên.

    Hy vọng bài viết sẽ giúp người học có những bước cơ bản về phát âm trong giai đoạn đầu học tiếng Việt, tạo cơ sở cho những giai đoạn nâng cao về sau.



    Today Educaiton - Cung cấp giáo viên bản ngữ chất lượng
     

Chia sẻ trang này